Xác định huyết thống bằng nhóm máu ABO có chính xác không?
5 (100%) 55 votes

XÁC ĐỊNH HUYẾT THỐNG BẰNG NHÓM MÁU ABO CÓ CHÍNH XÁC KHÔNG

Trong quá trình tư vấn xét nghiệm ADN và giám định ADN, các giám định viên tại Viện Công nghệ ADN NOVAGEN nhận được rất nhiều câu hỏi liên quan đến vấn đề xác định huyết thống bằng nhóm máu ABO có chính xác không?

Ví dụ như là:

  1. Bố mẹ đều là nhóm máu A, có thể sinh con có nhóm máu O?
  2. Bố nhóm máu B mà con trai thì lại nhóm máu AB, còn con gái lại có nhóm máu O?

Mặc dù trong mối quan hệ huyết thống, máu được di truyền theo quy luật Mendeleev. Mỗi nhóm máu thuộc hệ thống phân loại ABO đều được quy định bởi các gen đặc trưng mang tính trội (gen trội) hoặc tính lặn (gen lặn). Sự kết hợp giữa các gen lặn và gen trội sẽ quy định nhóm máu đặc trưng của mỗi người.

Tuy nhiên, khoa học đã chứng minh rằng phương pháp tính toán nhóm máu ABO có thể dự đoán được khả năng mối quan hệ huyết thống cha con nhưng độ chính xác rất thấp. Vì thế, đối với các trường hợp yêu cầu tính pháp lý cao thì KHÔNG thể dựa vào nhóm máu A, B,O để xác định mối quan hệ huyết thống giữa hai người.

Chúng ta sẽ tìm hiểu chi tiết về cơ sở khoa học của phương pháp xác định huyết thống bằng nhóm máu trong các phần tiếp theo của bài viết này.

Trước hết, chúng ta hãy cùng tìm hiểu hệ thống nhóm máu ABO là như thế nào? 

HỆ THỐNG NHÓM MÁU ABO

xác định huyết thống bằng nhóm máu ABO

Cấu tạo của máu đều chứa các thành phần cơ bản giống nhau, bao gồm:

  • tế bào hồng cầu
  • bạch cầu
  • tiểu cầu
  • huyết tương.

Dựa vào sự hiện diện của các kháng nguyên và protein đặc thù có trên màng hồng cầu mà máu được phân loại thành các nhóm khác nhau. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng cơ thể con người có khoảng 46 nhóm máu khác nhau. Máu của mỗi nhóm có thể có kháng thể chống lại những nhóm kia. Do đó, khi truyền máu khác nhóm vào, kháng thể của người nhận có thể phá hủy máu gây tác hại cho cơ thể.

Trong số các phân loại nhóm máu, hệ thống nhóm máu ABO là phổ biến nhất và được phân loại thành 4 nhóm máu chính là O, A, B và AB. 

Trên bề mặt màng hồng cầu của mỗi nhóm máu A, B, O và AB sẽ có các kháng nguyên đặc trưng riêng của mỗi nhóm:

bảng phân loại các kiểu nhóm máu ABO

Nhóm máu ABO được phân loại dựa vào kháng nguyên trên bề mặt hồng cầu.

1. Nhóm máu A

Nhóm máu A khá phổ biến, chiếm 35.7%, chỉ đứng sau nhóm máu O về sự phổ biến, được đặc trưng bởi sự hiện diện của kháng nguyên A trên các tế bào hồng cầu, và kháng thể B (để tấn công kháng nguyên B) trong huyết tương.

Vì vậy, người có nhóm máu A có thể:

  • Cho người có nhóm máu A và người có nhóm máu AB.
  • Nhận máu từ người có nhóm máu O và A.

2. Nhóm máu B

Đây là nhóm máu khá hiếm, chiếm 8.5%, chỉ đứng sau nhóm máu AB. Nó chứa các kháng nguyên B trên tế bào hồng cầu, và kháng thể A (để tấn công kháng nguyên A) trong huyết tương.

Vì vậy, người có nhóm máu B có thể:

  • Cho, hiến tặng máu cho người có nhóm máu B, người có nhóm máu AB.
  • Nhận máu truyền từ những người có nhóm máu B hoặc O.

3. Nhóm máu AB

Khác với nhóm máu O, nhóm máu AB không phổ biến, chỉ chiếm 3.4%. Nhóm máu AB được đặc trưng bởi có cả kháng nguyên A và B trên tế bào hồng cầu, và không có kháng thể trong huyết tương.

Vì vậy, người có nhóm máu AB có thể:

  • Cho, hiến tặng máu cho những người có nhóm máu AB.
  • Nhận máu truyền từ tất cả những người có nhóm máu A, B, AB, O.

4. Nhóm máu O

Nhóm máu O là nhóm máu phổ biến nhất, chiếm 37.4%. Nhóm máu O không có kháng nguyên A cũng không có kháng nguyên B trên tế bào hồng cầu, nhưng lại có cả hai kháng thể A và B trong huyết tương.

Vì vậy, người có nhóm máu O có thể:

  • Cho, hiến tặng máu cho tất cả các nhóm máu còn lại là A, B, AB, O.
  • Nhận máu truyền từ những người có nhóm máu O.

Như vậy, đến đây chúng ta có thể thấy rằng mỗi một nhóm máu trong hệ thống phân loại ABO đều có những đặc trưng riêng, kết cấu của mạch máu có thể bị phá vỡ nếu truyền không đúng nhóm máu tương thích. Do đó, việc biết bạn thuộc nhóm máu nào và các đặc tính của nó ra sao là thông tin rất quan trọng cần được xác định ngay từ nhỏ và lưu trữ kèm theo hồ sơ sức khỏe cá nhân của mỗi người.

CƠ CHẾ DI TRUYỀN CỦA NHÓM MÁU ABO

Như đã được đề cập ở phần đầu của bài viết, máu được di truyền theo định luật Mendel. Định luật Mendel hay quy tắc Mendel mô tả quá trình di truyền các đặc tính biểu hiện bên ngoài, được xác định bởi một gen duy nhất. Quy tắc này được đặt theo tên của người phát hiện ra chúng Gregor Mendel. Ông là người đã công bố đầu tiên kết quả thí nghiệm ở cây đậu Hà Lan vào năm 1866.

Kiểu gen khác nhau sẽ tạo ra nhóm máu khác nhau

Mỗi nhóm máu thuộc hệ thống phân loại ABO đều được quy định bởi các gen đặc trưng mang tính trội (gen trội) hoặc tính lặn (gen lặn). Sự kết hợp giữa các gen lặn và gen trội sẽ quy định nhóm máu đặc trưng của mỗi người.

  • Có 2 gen trội quy định tính trạng nhóm máu, đó là gen Agen B
  • Có 1 gen lặn quy định tính trạng nhóm máu, đó là gen O

Người nhóm máu A có thể mang kiểu gen AA hoặc AO, người nhóm máu B mang kiểu gen BB hoặc BO, người nhóm máu AB mang kiểu gen AB, người có nhóm máu O mang kiểu gen OO.

Do đó, sự kết hợp giữa người bố mang nhóm A, mẹ mang nhóm máu B có thể sinh ra con mang nhóm máu AB.

Dưới đây là sơ đồ về cơ chế di truyền của nhóm máu ABO:

nhóm máu di truyền như thế nào

Tính tương đối của việc dựa vào nhóm máu để xác định huyết thống có thể được giải thích qua các trường hợp kết hợp của các nhóm máu như sau:

Bố x Mẹ = Con

O x O = O
O x B = O, B
O x AB = A, B
A x O = A, O
A x A = O,A
B x B = O,B
A x B = O, A, B, AB
A x AB = A, B, AB
B x AB = A, B, AB

Theo đó, bố nhóm máu A kết hợp với mẹ nhóm máu B cho con có nhóm máu O, A, B, AB. Hoặc bố nhóm máu A kết hợp với mẹ nhóm máu O thì con sẽ có nhóm máu A, O; bố có nhóm máu A kết hợp với mẹ có nhóm máu AB thì con sinh ra có thể mang các nhóm máu như A, B, AB…

Tương tự, nếu mẹ có nhóm máu AB, con có nhóm máu A thì bố của đứa bé sẽ có thể mang một nhóm máu bất kỳ trong 4 nhóm máu, thế nên việc xác định quan hệ cha con theo nhóm máu trong trường hợp này là không hề chính xác.

Chúng ta có thể xem sơ đồ sau để thấy rõ ràng và trực quan hơn về sự di truyền nhóm máu ABO:

di truyền nhóm máu ABO

Từ những điều trên có thể thấy, nếu chỉ dựa vào nhóm máu để xác định quan hệ huyết thống sẽ KHÔNG có kết quả chính xác, việc quy định này chỉ mang tính chất tương đối.

NHỮNG TRƯỜNG HỢP CÓ THỂ XÁC ĐỊNH HUYẾT THỐNG BẰNG NHÓM MÁU ABO

Vì mang tính chất tương đối như đã phân tích ở trên nên vẫn có trường hợp các giám định viên có thể dùng nhóm máu để xác định quan hệ huyết thống. Ví dụ như:

  • Bố và mẹ đều mang nhóm máu O thì con sinh ra chỉ có thể mang nhóm máu O mà không thể là nhóm A, B hay AB.
  • Bố và mẹ đều mang nhóm máu AB thì con sinh ra sẽ có nhóm máu A, B, AB mà không thể có nhóm máu O.
  • Bố và mẹ đều mang nhóm máu B thì con sinh ra không thể có nhóm máu A, AB.
  • Bố và mẹ đều mang nhóm máu A thì con sinh ra không thể có nhóm máu B, AB.

Như vậy, dựa trên những phân tích nêu trên, chúng ta có thể kết luận rằng: nếu chỉ dựa vào nhóm máu để xác định huyết thống thì mức độ chính xác khá thấp và việc này không được thừa nhận về mặt pháp lý. Chỉ có xét nghiệm ADN mới giúp xác định huyết thống một cách chính xác và có độ tin cậy cao nhất.

Cho đến nay việc xác định xem hai người có cùng hay không cùng quan hệ huyết thống chủ yếu vẫn dựa vào xét nghiệm ADN. Muốn thực hiện được xét nghiệm này thì phải lấy mẫu máu, tóc hay tế bào niêm mạc miệng của những người cần xét nghiệm để phân tích và so sánh thông tin ADN của mỗi người với nhau. 

>> Đọc thêm:

TS. Đặng Trần Hoàng
Viện Công Nghệ ADN NOVAGEN


xét nghiệm adn tại NOVAGEN